jangseung 3

Jangseung trong đời sống của người dân Hàn Quốc

jangseung 3Từ yếu tố truyền thống được xây dựng một cách khoa học, Jangseung (cột gỗ cao được vẽ hoặc khắc lên đó biểu tượng của vật tổ) nay trở thành hình ảnh giá trị cho du lịch “xứ sở Kim Chi”. Hãy cùng Viet Viet Tourism tìm hiểu về biểu tượng văn hóa này nhé!

Tại các ngôi làng Hàn truyền thống, Jangseung thường được dựng ở cổng làng, được xem là những vị thần bảo hộ cho cộng đồng dân cư của cả làng. Hiện nay dân tộc Hàn đã bước vào xã hội công nghiệp với tốc độ phát triển vô cùng mạnh mẽ của kinh tế và khoa học kỹ thuật, rất nhiều yếu tố văn hóa dân gian đã và đang mất dần đi sức lan tỏa vốn có, song Jangseung vẫn giữ được hơi thở của mình. Bởi, ngoài vai trò là một loại hình tín ngưỡng bản địa tiêu biểu, Jangseung còn được coi là một tác phẩm nghệ thuật.

1. Lịch sử thờ tự

Ngay từ thời Tam Hàn, việc thờ Jangseung đã xuất hiện. Tại các nước này, pháp sư được giao nhiệm vụ chăm lo về nghi lễ, gọi là cheongun (thiên quân). Tương truyền, họ có quyền hành với những cơ sở biệt lập gọi là sodo (tô đồ), nơi đó dựng một cái trụ cao, trên treo một cái trống và một cái chuông để phục vụ cho lễ nghi tôn giáo.

jangseung 2

Theo Cheo Jun Sik, trong Phong tục Hàn Quốc – tín ngưỡng dân gian, Sodo chính là thánh địa tôn giáo, nơi mà Vu giáo sinh sống và cử hành những nghi lễ thiêng liêng. Nếu đem so sánh với những Jangseung nguyên thủy ở Hàn tộc (vốn chỉ là những cột gỗ hoặc phiến đá) thì cái cây được dựng trong Sodo mang màu sắc tôn giáo ấy, chính là dạng thức ban đầu của cái được gọi là Jangseung sau này ở đất nước Hàn Quốc.

2. Tên gọi và chất liệu của Jangseung qua các thời kỳ

Theo từng giai đoạn khác nhau, Jangseung cũng mang những tên gọi khác nhau: thời Silla và Koryo gọi là Jangseung (trường sinh), Jangseung Pyoju (tiêu chủ trường sinh), Mokpang Jangseng Pyo (mộc bản trường sinh tiêu), Sokjok Jangseng Pyo (thạch tích trường sinh tiêu), Hwang Jangseng (hoàng trường sinh), Jongsong (trường thành), jongson (trường thiên). Đến thời Choseon, người Hàn lại gọi Jangseung bằng nhiều cái tên như Sung, Tangsung, Jangsung, Jangson, Jangson Ju…

Ngoài một số ít thạch Jangseung, hầu hết còn lại ở Hàn Quốc là mộc Jangseung. Thực tế, cũng giống như nhiều cư dân châu Á khác, người Hàn có quan niệm vạn vật hữu linh. Đối với họ, bất cứ sự vật gì cũng có thể có linh hồn. Từ gốc cây, đống đá đến sợi dây rơm buộc vào cành cây (Kum Jul), hay những mảnh giấy trắng phủ lên bát gạo đặt ở góc nhà (tổ thần, Chosangtanji), hoặc một chén nước sạch để ở góc bếp (thần lửa, thổ thần, Chowang)… đều có thể là những vị thần mà họ cần thờ phụng và cầu khẩn. Như vậy, việc người Hàn chọn cây làm vật liệu để khắc họa nên các vị thần jangseung là có căn nguyên mang tính chất tâm lý và lịch sử.

jangseung 1

Về mặt tâm lý, cư dân nông nghiệp thế giới nói riêng và châu Á nói chung, hầu hết đều coi thần mộc là con đường thiêng liêng liên kết giữa trời và đất. Vì vậy, người ta hay cho rằng mỗi gốc cây to với những cành lá xum xuê rạm rạp là nơi cư ngụ của thần linh hoặc ma quỷ. Người Việt thường có câu thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề là như vậy.

Về nguồn gốc lịch sử, có lẽ chúng ta không xa lạ gì với huyền thoại lập quốc tiêu biểu của người Hàn – huyền thoại Dan gun. Tác phẩm Tam quốc di sử của người Hàn đã cho ta biết:

“Thượng Đế Hwan in (Hoàn Nhân) cho ba ngàn thục hạ hộ tống hoàn tử Hwan ung (Hoàn Hùng) xuống gốc cây chiên đàn (sindasu) trên đỉnh núi Baekdu. Hwan ung xưng là Cheon wang (Thiên vương) và xây dựng một thần thị. Sau đó có một con gấu và một con hổ đến gặp Hwan ung xin được làm người. Hwan ung ban cho mỗi con hai mươi nhánh tỏi và một nắm ngải cứu và bảo hãy ăn những thứ này, nếu có thể không nhìn mặt trời trong vòng một trăm ngày sẽ có được hình dáng của con người. Gấu nhờ nhẫn nại chịu đựng nên sau 21 ngày trở thành một cô gái sinh đẹp là Ung Nyo (cô gái gấu). Hổ vì không chịu được nên không biến thành người. Sau đó Ung Nyo trở lại gốc cây chiên đàn gặp Hwan ung xin được mang thai. Họ đã sinh ra người con trai và đặt tên là Dan gun (Đàn Quân). Đàn Quân lập quốc ở lưu vực sông Daedong (Đại đông) và đặt tên nước là Choseon (Triều Tiên) – tương truyền vào ngày 3-10-2333 trước CN”.

Gạt bỏ tất cả các yếu tố mang tính chất nguồn gốc dân tộc, nhân sinh quan, không gian và thời gian…, chúng ta thấy có sự xuất hiện của cây chiên đàn. Vấn đề là tại sao ngay từ đầu, Hwan ung không chọn một địa điểm khác mà lại phải là cây chiên đàn để hạ xuống trần gian. Đến lượt cô gái gấu Ung Nyo cũng xin được có con với Hwan ung ở dưới gốc cây này. Qua đó có thể thấy, ngay từ khởi thủy, người Hàn đã cho rằng cây chính là một gạch nối thiêng liêng là vị thần có thể liên hệ giữa trời và đất. Do đó, việc tộc người này lựa chọn cây để khắc họa các vị thần Jangseung, thần bảo hộ dân làng, là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Nếu như ban đầu Jangseung chỉ là những cột gỗ hoặc phiến đá thì dần dần về sau, người ta đã khắc lên chúng những khuôn mặt phong phú. Có thể nói, bí quyết để khắc Jangseung thực sự vừa phá cách lại vừa gần gũi. Trước đây, phần lớn các khuôn mặt jangseung thường dữ tợn với cặp mắt lồi, giận dữ, hàm răng thô kệch, nụ cười mỉa mai nhằm hù dọa ma quỷ. Về sau, khuôn mặt Jangseung có khuynh hướng hiền lành hơn. Jangseung hoàn thiện vừa có nét thân mật giống như ông lão, bà lão hàng xóm lại vừa có nét pha hài hước, thậm chí những thạch jangseung ở các ngôi chùa còn có khuôn mặt gần giống với tượng Phật.

3. Vai trò của Jangseung trong đời sống người Hàn

Trong tâm thức người Hàn, sự hiện diện của Jangseung tại các ngôi làng đã trở nên quen thuộc. Nó là nhân tố quan trọng, là linh hồn của các Jangseung tế. Trong tập 2 cuốn Văn hóa Hàn Quốc, những điều bí ẩn, Joo Kang Huyn đã miêu tả về lễ tế thành hoàng của làng Sorasil ở Tan Cheon thuộc tỉnh Kongju như sau:

“Ngôi làng được chia thành hai phần phía đông và phía tây. Jangseung tế của làng sẽ được thực hiện với trọng tâm của đám cưới của chú rể Jangseung và cô dâu jangseung. Chú rể ở làng phía đông còn cô dâu ở làng phía tây. Trước khi cử hành Jangseung tế vài ngày, dân làng sẽ chơi nông nhạc, đồng thời đi đến trước từng nhà để thu tiền chi phí cho Maul goot. Có người nộp tiền thay vì gạo, số gạo đó dùng để nấu rượu.

Jangseung tế của ngôi làng này được diễn ra vào đúng ngày rằm. Khi mặt trời lặn, dân làng sẽ làm đám cưới thật cho jangseung. Tiếp theo là nghi lễ động phòng, họ buộc hai jangseung với nhau rồi thả xuống để biểu thị họ đã động phòng. Sau khi nghi lễ động phòng kết thúc, người của hai làng sẽ trở về làng của mình, dựng jangseung lên và tổ chức lễ cúng tế để cầu xin sự an lành cho làng trong suốt cả năm”.

jangseung 4

Qua miêu tả, có thể thấy Jangseung chính là vị thần bảo hộ và mang lại cuộc sống ấm no cho dân làng. Đây là chức năng cơ bản nhất của các jangseung đồng thời là điều mong muốn nhất của mỗi người dân khi tham gia các jangseung tế. Do đó, ngay từ bước đầu tiên trong việc làm Jangseung đã được người dân hết sức chú ý. Thông thường các bước làm mộc Jangseung được tiến hành như sau: người đại diện dân làng và các nghệ nhân sẽ thực hiện một nghi thức cúng lễ rất thành tâm và với suy nghĩ rất kỹ về một jangseung thể hiện được nét cá tính riêng của làng; lựa chọn những cây gỗ phù hợp, chặt bỏ những phần không cần thiết, kể cả vỏ cây; vẽ bản phác thảo (Mikkurim) bằng mực tàu lên cây, mặt thần luôn được đặt ở gốc cây, nghệ nhân khắc bao giờ cũng tận dụng tối đa những vết lồi lõm tự nhiên để tạo ra những hình ảnh ảnh sống động, hài hước độc đáo của Jangseung làng mình; chạm khắc theo Mikkurim, thông thường, phần lồi ra của gốc cây sẽ được tạo điểm nhấn là mũi, phần lõm là miệng (theo quan niệm của người Hàn, nếu khắc gương mặt Jangseung quá giả tạo hay gượng ép thì năng lực bảo vệ của các thần sẽ không còn); các nghệ nhân sẽ viết tên cho Jangseung theo nguyên lý âm dương: dòng chữ thiên hạ đại tướng quân (của Jangseung nam) phải được khắc lồi, còn địa hạ nữ tướng quân của jangseung nữ phải được khắc lõm; sau khi công việc chạm khắc hoàn thiện, dân làng sẽ thực hiện lễ cúng tế và dựng jangseung mới ở gần jangseung cũ ngay cổng làng, người ta chôn ngọn cây xuống và hướng phần gốc cây (mặt Jangseung) lên trên.

Với niềm tin rằng Jangseung là vị thần bảo hộ cho các ngôi làng nên những người rời làng ra đi đều phải khai báo với vị thần này và người Hàn cũng tự giác làm điều này để cầu mong sự an toàn cho suốt chuyến đi. Thậm chí, người Hàn còn tin rằng Jangseung có chức năng ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm xâm nhập vào làng và giúp mùa màng bội thu. Một câu chuyện về một ngôi làng đã được tác giả Choe Jun Sik kể lại trong Phong tục Hàn Quốc, tín ngưỡng dân gian rằng: họ đã lên Seoul để tìm lại những cây Jangseung đã bị đánh cắp. Lý do bởi vì từ khi những cây Jangseung bị mất, dân làng gặp đủ thứ chuyện. Tuy nhiên, những trường hợp như thế hiện không còn nữa.

jangseung 5

Ngoài chức năng chính trên đây, Jangseung còn được xem như vị thần bảo vệ các thành phố, chùa chiền. Nhiều chùa dựng Jangseung như một dạng hộ pháp để bảo vệ Phật pháp. Nhiều chính quyền trước đây đã cho dựng Jangseung trước cổng thành để bảo vệ thành. Thậm chí nhiều ngôi chùa cũng dựng jangseung như một vị hộ pháp để bảo vệ Phật pháp. Chính vì vậy, hình dáng của các jangseung trong những ngôi chùa thường thường giống với các vị Phật. Trong chùa, thông thường người ta thường dựng thạch jangseung.

Jangseung tượng trưng cho sinh thực khí nam hoặc cả sinh thực khí nam và nữ, có thể mong ước sinh sôi, duy trì nòi giống. Đây là một dạng tín ngưỡng thờ thần làng được hợp nhất với tín ngưỡng phồn thực. Bất cứ ai đến đảo Jeju hiện nay cũng có thể nhận thấy sự hiện diện của Harubang (vị thần bảo hộ dân làng) dưới dạng tượng đá tạc hình ông già đội mũ. Thực tế, Harubang là biến thể của sinh thực khí nam, dấu vết còn lại là chiếc mũ (vật bất ly thân trên đầu của ông già). Không chỉ ở đảo Jeju mà Jangseung trong các ngôi chùa ở Hàn Quốc hiện nay cũng có dạng dương vật hóa Di Lặc. Hiện tượng này là sự biến thể liên tục của Jangseung nguyên thủy: lần biến đổi đầu tiên là từ Jangseung với khuôn mặt thô kệch, khi được đặt tại chùa, do hưởng của môi trường Phật pháp nên dần dần các Jangseung được biến đổi hình dạng cho gần giống với Phật; lần biến đổi thứ hai xuất phát từ nhu cầu duy trì nói giống của con người, đặc biệt là tư tưởng trọng nam khinh nữ từ thời Choson (để sinh được con trai, rất nhiều phụ nữ đã đi chùa để cầu Phật Di Lặc phù hộ, dần dần, để linh nghiệm hơn, tượng Di Lặc đã được người ta tạc càng ngày càng giống với của quý của đàn ông).

Jangseung với vai trò là cột mốc xác định lãnh địa của làng. Thông thường, nếu người ta dựng Jangseung ở cổng làng thì tự nhiên chỗ đó trở thành ranh giới. Sự xuất hiện cây jangseung ở đó cũng có ý nghĩa báo hiện nơi đó có làng xóm. Ở những làng mà ba bề là núi thì người ta dựng Jangseung ở mặt còn lại. những làng vắng vẻ thì dựng Jangseung ở bốn phía.

4. Jangseung trong âm nhạc truyền thống Hàn Quốc

Trong âm nhạc truyền thống của Hàn Quốc có xuất hiện hình ảnh tượng thần hộ vệ làng Jangseung chịu khổ nạn oan uổng. Ví dụ như trích đoạn mô tả cảnh quân Tào Tháo kéo tới tấn công nước Ngô nhưng bị phục đánh hỏa trận. Trong khi bỏ chạy, Tào Tháo đã bắt gặp tượng gỗ Jangseung ở lối vào một ngôi làng và đã trút giận vào bức tượng để hả hận vì bị bại trận. Trong khúc ca mà chúng ta vừa nghe, tượng gỗ Jangseung than thân trách phận rằng, có cây thì được làm nhạc khí rồi tấu lên những khúc nhạc phong lưu Pungryu, có cây thì được vinh hiển vì tỏa bóng che mưa cho quân vương, cớ sao cái thân phận mình lại bị đem ra làm tượng gỗ Jangseung để phải cam chịu đau khổ nhục nhã thế này.

Lời bài ca có đoạn:

“Mặt thì chẳng giống mặt ma,

Mũi bằng nắm đấm, mắt trố lồi lại còn bị bôi đất đỏ toàn thân

Tay thì không có, mình lại vuông chằn chặn,

Dựng ở ven đường với dòng chữ khắc trên bảng gỗ

Có miệng để nói, có tay để van xin

Có chân để chạy hay có mắt để nhìn đây?”

Lời ca thể hiện tâm trạng bức bối của tượng gỗ Jangseung đứng bên lề đường. Thế mới biết người Hàn xưa kia có cái nhìn tinh tế và sâu sắc đến nhường nào. Jangseung vừa là vị thần bảo vệ sự bình an cho làng mạc vừa là cột hướng dẫn chỉ đường. Cảnh khổ nạn của Jangseung còn được diễn tả trong ca khúc “Byeongangsoe Taryeong”. Lời bài ca kể về anh chàng lười có một không hai trên thế gian tên là Byeongangsoe. Một hôm, nhà hết củi đun, anh ta lười biếng không muốn lên núi đốn củi, bèn nghĩ đến ngay việc nhổ tượng gỗ Jangseung về làm củi đốt. Tượng gỗ Jangseung ấm ức than vãn về thân phận hẩm hiu của mình.

jangseung 6

Không biết từ bao giờ và vì lý do gì người Hàn Quốc khắc tượng gỗ Jangseung và dựng bên lề đường dẫn vào các làng mạc. Nhưng có thể coi tượng gỗ hộ vệ làng Jangseung là một trong những tín ngưỡng dân gian cổ xưa của Hàn Quốc như tư tưởng thờ cúng dương vật, dựng mộ đá hay cọc tre có tượng chim khắc gỗ Sotdae.

Một số mặt nạ truyền thống hay mặt nạ yêu tinh Dokkaebi của Hàn Quốc cũng mô phỏng gương mặt nực cười của tượng thần hộ vệ Jangseung. Vật liệu dùng để làm Jangseung khác nhau tùy theo từng vùng. Ví dụ như ở các vùng phía Nam bán đảo Hàn Quốc như các tỉnh Bắc Jeolla, Nam Jeolla, Bắc Gyeongsang và Nam Gyeongsang, người ta dùng đá để khắc tượng Jangseung, còn ở các vùng miền Trung bán đảo Hàn Quốc như các tỉnh Gyeonggi, Bắc Chungcheong và Nam Chungcheong thì người ta dùng gỗ để khắc loại tượng này. Tượng đá Jangseung có khuôn mặt to tròn giống như đặc trưng của người phương Nam, còn tượng gỗ Jangseung thì lại có gương mặt gầy dài ngoẵng, đôi mắt xếch ngược và cái mũi dài giống như ngoại hình của người phương Bắc. Hình dáng khuôn mặt của tượng thần hộ vệ Jangseung vô cùng đa dạng. Điều này chứng tỏ rằng người Hàn là một dân tộc phát triển từ nhiều loại gen di truyền.

Văn hóa “xứ sở Kim Chi” có rất nhiều nét đặc sắc và thú vị đang chờ đón du khách đến khám phá. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không đặt ngay cho mình một tour du lịch Hàn Quốc của Viet Viet Tourism