Musok 1

Musok – văn hóa tín ngưỡng dân gian truyền thống của Hàn Quốc

September 29, 2017
Ẩm thực Hàn Quốc

Musok 1Giữa các nước châu Á có khá nhiều nét tương đồng khi người ta thường hướng đến đời sống tâm linh với những hi vọng, những tôn kính về đấng thiêng liêng sẽ luôn che chở, bảo hộ cho đời sống của họ. Ở Hàn Quốc từ xa xưa cũng đã có một tín ngưỡng truyền thống đó là “lên đồng” – Musok. Tuy ngày nay tập tục này đã bị cho là mê tín dị đoan và còn lại rất ít những người hành nghề “lên đồng” nhưng nó vẫn là một phần trong văn hóa của người Hàn.

Văn hoá truyền thống của Hàn Quốc và văn hoá truyền thống của Việt Nam có nhiều nét tương đồng, một trong số đó phải kể đến những tương đồng trong tín ngưỡng tôn giáo. Ngoài Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Kitô giáo là những tôn giáo phổ biến trong khu vực Đông Bắc Á, trong đó có Hàn Quốc và Việt Nam thì tín ngưỡng dân gian “lên đồng” – một loại tín ngưỡng xuất hiện từ thời cổ xưa mang nhiều tính đặc thù của văn hoá Hàn Quốc cũng thể hiện không ít những nét như vậy. 

Ở Hàn Quốc, tín ngưỡng “lên đồng” được gọi là Musok và nghi lễ của tín ngưỡng “lên đồng” được gọi là Gut. Theo các nhà nghiên cứu thì musok xuất xứ từ những tín ngưỡng saman giáo Sibiri cổ xưa. Những người dân di cư từ các bộ tộc ở Sibiri đã đem theo tín ngưỡng của họ đến bán đảo này từ thời tiền sử. Tại đây những tín ngưỡng saman giáo ấy đã trải qua quá trình phát triển và biến đổi lâu đời gắn với những hoàn cảnh đặc thù của cuộc sống lao động và đấu tranh với thiên nhiên của những cư dân trên bán đảo Hàn Quốc. Trong quá trình phát triển, musok của Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và nhiều tôn giáo ngoại lai khác. Cũng chính vì vậy, ngày nay Musok-kyo vừa thể hiện những đặc thù của văn hoá Hàn Quốc vừa mang nhiều nét phổ biến của truyền thống văn hoá phương Đông.

Musok 4

Từ xa xưa, người Hàn đã tin rằng thần linh tồn tại trong mọi sự vật trên thế gian. Vậy nên, tại các nghi lễ cúng tế thần hoàng làng và thần canh giữ thổ công của gia đình của người Hàn Quốc đều có sự xuất hiện của thầy đồng. Trong những lúc gia đình có chuyện đại sự, chuyện buồn hay có người đau ốm, họ cũng tìm tới thầy đồng để xin hóa giải.

Đây là một loại tín ngưỡng dân gian truyền thống có ý nghĩa nhất định và tầm quan trọng trong cuộc sống tâm linh của người dân Hàn Quốc. Ở một số nơi, đặc biệt là các vùng nông thôn, người dân vẫn mời “thầy đồng – Shaman” về để cúng khi nhà có chuyện không may xảy ra. Thỉnh thoảng khi đến các làng quê Hàn Quốc, khách du lịch vẫn có thể chứng kiến một buổi lễ lên đồng sinh động.

Các vị thần trong tín ngưỡng “lên đồng” của Hàn Quốc

Trong tín ngưỡng dân gian “lên đồng” có rất nhiều vị thần khác nhau. Người Hàn Quốc cho rằng các vị thần luôn có mặt ở khắp mọi nơi xung quanh họ; thần ngự trị ở trên trời, trên núi, ngoài cánh đồng đến từng ngóc ngách nơi căn phòng họ đang sống. Người ta cho rằng các vị thần linh gần gũi và trở thành một phần trong cuộc sống thường ngày của người Hàn Quốc giống như như món kim chi trong bữa ăn của người Hàn Quốc. Số lượng thần nhiều vô kể, nhưng về cơ bản có thể được chia làm 6 loại: thần tối cao, thần không gian, thần đất, thần nước, các vị thần vô danh và linh hồn tổ tiên.

Thần tối cao – Vị thần này được gọi bằng những cái tên như Hananim, Hanallim, Hanũnim, hay Hanũllim. Vị thần này ở trên trời và từ đó điều hành mọi vật trong vũ trụ. Cuộc sống của mỗi người, mùa màng, mưa, nắng và các hiện tượng thiên nhiên đều chịu sự chi phối của vị thần này. Quan niệm về vị thần tối cao như vậy của người Hàn Quốc có nhiều nét tương đồng với quan niệm về Ngọc Hoàng Thượng Đế hay Ông Trời trong tâm thức tín ngưỡng của người Việt Nam.

Thần không gian – Các vị thần không gian được sắp xếp theo thứ tự sau đây:

– Ngũ phương tướng quân (Obang changgun) là các vị thần có vị trí sau vị thần tối cao Hananim. Mặc dù tín ngưỡng Ngũ phương tướng quân cũng thấy có ở Trung Quốc nhưng một số nhà nghiên cứu tôn giáo Hàn Quốc lại cho rằng tín ngưỡng này của người Hàn Quốc có nguồn gốc từ những tín ngưỡng của vùng Trung á và Sibiri. Obang changgun là năm vị thần thủ lĩnh của năm phương, thể hiện vũ trụ quan dân gian của người Hàn Quốc. Mỗi phương được quy định một màu nhất định riêng biệt. Thanh đế tướng quân (Ch’ongje changgun), tướng màu xanh da trời thống trị phía đông, Bạch đế tướng quân (Paekche changgun), tướng màu trắng thống trị phía tây. Xích đế tướng quân (Chõkche changgun), tướng màu đỏ thống trị phía bắc. Hắc đế tướng quân (Hũkche changgun), tướng màu đen thống trị phía nam và Hoàng đế tướng quân (Hwangje changgun), tướng màu vàng thống trị ở trung tâm.

– Thần tướng (Sinjang) là các thần linh cấp dưới của Obang changgun, được coi như quan hầu cận của các vị tướng. Có khoảng 80.000 vị thần loại này.

Musok 5

Thần đất – Các vị thần đất bao gồm:

– Sơn thần (San-sin ) là vị thần đất quan trọng nhất. Sơn thần thường được thấy thờ ở am sau chùa. Bàn thờ dành cho Sơn thần rất đơn giản.Bên trong người ta treo một bức chân dung mô tả vị thần này dưới dạng một ông già nhân từ với bộ râu trắng, ngồi trên một con hổ dưới cây thông. Bên cạnh đó là một cậu bé dâng đào tiên ngụ ý sự trường thọ theo quan niệm Đạo giáo. Sơn thần không phải vị thần của một ngọn núi cụ thể nào đó mà là thần của tất cả các ngọn núi và là vị vua huyền thoại đầu tiên của người Hàn Quốc – Tangun. Theo truyền vua Tangun là cháu thần tối cao Hananim và được sinh ra trên đỉnh núi. Sau khi hoàn thành sứ mệnh trị vì dưới mặt đất Tangun đã trở thành sơn thần. Người ta thờ vị thần này để mong được bội thu mùa màng, khỏe mạnh và sống lâu. Nhất là những người phụ nữ hiếm con thường cầu xin vị thần này để sinh được con trai như ý muốn.

– Thần bảo hộ làng (Changsũng). Người Hàn Quốc có tập quán tôn thờ thần bảo hộ làng. Hầu hết trước cổng các làng ở Hàn Quốc trước đây (ngày nay vẫn còn thấy ở nhiều nơi) thường dựng hai cột làm bằng gỗ, đôi khi bằng đá. Hai cột này gọi là changsũng được đục đẽo một cách thô sơ hình đàn ông và đàn bà, một được gọi là Thiên hạ đại tướng quân (Ch’onha tae changgun), một được gọi là Địa hạ đại tướng quân (Chiha tae changgun). Các học giả Hàn Quốc cho rằng trước khi chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng giáo thì trong triết lí dân gian của người Hàn Quốc đã có quan niệm sơ khai về tính hai mặt của sự vật, về sự đối lập của trời và đất, âm và dương mà tín ngưỡng changsũng là một biểu hiện như vậy.

– Thánh chủ (Sõngju ) và các vị thần bảo hộ gia đình khác. Có rất nhiều vị thần bảo hộ gia đình được thờ cúng trong nhà, như vị thần bảo vệ sự sinh nở (samsin halmoni), vị thần bảo hộ nhà đất (t’oju taegam), thần bếp (chowang), thần giữ nhà vệ sinh(pyõnso kakssi)…Trong số đó cao nhất là sõngju, tức thánh chủ. Người ta thờ thánh chủ trong những dịp như thu mùa, dọn về nhà mới…

Thần nước – Hàn Quốc là một quốc gia bán đảo, nông nghiệp là một kế sinh nhai lâu đời. Chính vì vậy mà nước là một yếu tố rất quan trọng trong đời sống của những cư dân nơi đây và được tôn thờ như những vị thần. Có rất nhiều loại thần nước, tất cả các vị thần này đều được quan niệm bằng hình tượng những con rồng (còn gọi là long theo âm Hán). Rồng được coi là sống trong những con suối, con sông, dưới biển và trên trời – nơi chúng có thể kiểm soát các trận mưa. Vị Long thần (thần Rồng) vĩ đại nhất là Long vương, hay vị vua của biển cả. Người Hàn Quốc có rất nhiều truyền thuyết về Long vương, về liên hệ của Long vương với thế giới loài người.

Những vị thần vô danh –  Thấp hơn các vị thần vừa kể trên là một loạt các vị thần, ma, quỷ tạo thành một tầng lớp thấp nhất trong trật tự thế giới các thần linh của Musok-kyo . Một số trong các vị thần đó rất nhân từ như thần bếp, thần hũ thóc gạo…Lại có một số vị thần tai ác mang lòng thù nghịch, chuyên đem lại những chuyện không may cho con người. Người Hàn Quốc tin rằng những vị thần này thường là hồn của những người chết trẻ, chết đuối; của những người con gái chết khi chưa lấy chồng. Người ta còn cho rằng có những loại thần linh rất đặc biệt, chuyên làm hỏng đồ đạc trong nhà, làm đổ chai lọ, đánh vỡ bát, v.v…

Linh hồn tổ tiên – Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có mặt từ rất lâu đời ở Hàn Quốc. Trong tín ngưỡng này các nghi lễ Khổng giáo đóng vai trò quan trọng liên kết các tín ngưỡng bản địa thành một thể thống nhất. Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc cho rằng nghi lễ thờ cúng tổ tiên vốn là của Hàn Quốc chứ không phải do ảnh hưởng của nước ngoài. Điều này thật thú vị khi ta thấy cả người Nhật và người Việt cũng đều khẳng định nhiều nghi lễ thờ cúng tổ tiên vốn là của họ chứ không phải do ảnh hưởng từ văn hoá Trung Quốc, mặc dù chúng có rất nhiều nét tương đồng với tín ngưỡng này của Trung quốc, nhất là ở những yếu tố Nho giáo. Truyền thuyết về Tangun của Hàn Quốc ở thời kì các quốc gia bộ tộc chỉ ra rằng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Hàn Quốc đã tồn tại từ rất sớm và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân nước này.

Vai trò trung gian của thầy đồng, thầy tế và thầy bói trong tín ngưỡng “lên đồng”

Ở Hàn Quốc những người giữ vai trò trung gian trong tín ngưỡng dân gian nói trên tuy rất đa dạng nhưng có thể được chia làm ba loại chính là thầy đồng (gọi chung là Shaman), thầy tế (Chegwan)thầy bói.

Trong văn hóa tín ngưỡng dân gian ở Hàn Quốc, nhắc đến thầy đồng thường sẽ là những người gắn liền với một loại hình tín ngưỡng dân gian độc đáo – Shaman giáo. Shaman giáo là một tín ngưỡng dân gian bản địa tại Hàn Quốc hiện diện trong đời sống tâm linh của người dân từ thời tiền sử, tuy nhiên đây vẫn không phải là tín ngưỡng duy nhất và chủ đạo của Hàn Quốc.

Trong Shaman giáo, thầy đồng là những người có khả năng đặc biệt, có thể giao tiếp được với thế giới thần linh, ma quỷ, có thể mời gọi những lực lượng này đến hoặc xua đuổi họ đi. Shaman là những người giúp truyền đạt tâm nguyện của người sống đến thế giới tâm linh và ngược lại, truyền mệnh lệnh của thần linh đến người đang sống.

Thầy đồng được chia làm hai loại là Mu Dang – thầy đồng nữ và Pak Su – thầy đồng nam. Nhưng phần lớn là những thầy đồng nữ hoạt động trong lĩnh vực này. Trong Mu Dang lại được chia ra làm 2 loại là Kang Sin Mu và Se Seum Mu. Sự phân chia này dựa trên “nguồn gốc quyền năng” của họ. Kang Sin Mu là những người có khả năng nói được tiếng nói của linh hồn tổ tiên trong khi Se Seum Mu là những Mu Dang được mẹ truyền nghề và được thừa kế vị trí của mẹ.

Mu Dang và Pak Su khi lên đồng, nhập hồn thường mặc trang phục ngược với giới tính của mình. Những thầy đồng này đều mặc bộ đồ có gắn những tua với những nhạc cụ phát ra tiếng kêu. Họ thường dùng trống để thực hiện nghi lễ và các mô típ hình chim cũng được dùng như một phương tiện chủ yếu để mô tả thầy cũng như kinh nghiệm của họ.

Musok 2

Thầy tế là những người được chọn ra để đảm nhiệm việc tế lễ trong lễ hội của làng. Thường thì người trưởng làng chọn ra ba người để thực hiện nghi lễ của làng trong một lễ hội nào đó. Người được chọn ra phải thực hiện những quy tắc đảm bảo sự thanh tịnh bản thân cho đến hết kì lễ. Họ không được quan hệ tình dục, đặc biệt là không được giao tiếp với những người phụ nữ có kinh, mới sinh con hay không được gần gũi thi hài người chết. Sau khi được chọn họ phải cách li với gia đình và thực hiện các nghi lễ tẩy uế thân thể để chuẩn bị cho buổi tế. Những nghi lễ của thầy tế vừa có yếu tố liên hệ chặt chẽ với nghi lễ của các bộ tộc Sibiri, vừa mang nhiều yếu tố Khổng giáo.

Ở Hàn Quốc có nhiều loại thầy bói: thầy bói may rủi được gọi là Chomjaengi; thầy địa lí là Chigwan; thầy chọn ngày tốt xấu là Ilgwan. Trong số những thầy bói may rủi thì có một loại thầy bói đặc biệt – những thầy bói bị mù, gọi là p’ansu. Nếu công việc của các thầy bói chỉ là bói tìm ra vận cát hung thì những thầy bói mù lại có thêm chức năng niệm thần chú.

Thầy địa lí Chigwan chuyên bói để tìm chỗ tốt cho việc xây cất nhà cửa và an táng. Giống như quan niệm truyền thống của người Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, người Hàn Quốc tin rằng địa thế có ảnh hưởng đến sự giàu có hay nghèo hèn của chủ nhân. Chính vì vậy môn phong thuỷ địa lí, hay p’ungsu chiri – một nghệ thuật tìm ra những vị trí đắc địa, rất được chú trọng.

Thầy chọn ngày, hay ilgwan thường sử dụng sách bói để tìm ra ngày thích hợp cho việc thực hiện một công việc gì đó, ví dụ ngày để làm đám cưới, ăn hỏi, ngày dựng nhà, ngày xuất hành…Cũng giống như nhiều người Việt Nam, người Hàn Quốc khi muốn xem vận may, điềm rủi, nhất là muốn biết những điều tốt xấu thuộc về tiền vận, hậu vận đều dựa vào những thông số mà phổ biến nhất là ngày giờ, nhất là ngày sinh, giờ sinh, năm sinh tính theo âm lịch. Cách bói như vậy gọi là saju p’alcha. Ngoài việc xem vận cát hung bằng cách suy đoán từ ngày sinh tháng đẻ, người Hàn Quốc còn bói qua cách xem tướng mặt gọi là Kwasang, xem tướng tay gọi là Susang.

Âm nhạc “lên đồng” và lễ cúng cầu siêu vùng miền trong dân gian Hàn Quốc

Jindo Ssitkimgut (Cúng cầu siêu của vùng đảo Jindo) là di sản văn hóa phi vật thể quan trọng số 72 của Hàn Quốc, nó mang ý nghĩa là cầu khấn tẩy rửa mọi oán hận ở đời để hương hồn người chết được siêu thoát và lên với cõi cực lạc. Đóng góp cho dòng nhạc tế lễ “lên đồng” chủ yếu có phong cách hát bài chòi Pansori, Sinawi và Sanjo. Trong thời kì Nhật đô hộ và Cải cách làng văn hóa mới, nhiều tín ngưỡng địa phương và Gut đã bị coi là mê tín dị đoan và bị ngăn cấm truyền bá nên đã phai mờ dần. Vùng Jindo đã và đang phát huy tinh thần bảo tồn lưu truyền văn hóa truyền thống dân tộc. Thời nay, chúng ta vẫn có thể bắt gặp các nghi lễ cúng cầu siêu tại nhiều đám tang vùng Jindo.

Ngoài dòng nhạc cúng cầu siêu vùng Jindo ra, không thể không nhắc đến dòng nhạc cúng cầu siêu vùng Seoul, tiêu biểu là bài Barigongju. Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa có một vị vua sinh thành được 7 nàng công chúa, vì quá bực tức nên nhà vua đã đem vứt bỏ nàng công chúa út. Ngày tháng trôi qua, nhà vua lâm bệnh nặng và phải uống thuốc thần lấy từ diêm vương về thì mới mong cứu được mạng sống. Sáu nàng công chúa chị và mọi cận thần đều từ chối xuống Diêm Vương tìm thuốc cho nhà vua. Duy chỉ có nàng công chúa út, người bị nhà vua vứt bỏ, hắt hủi, đã chấp nhận vượt qua mọi khó khăn, hiểm nguy để tìm được thuốc quý về cứu phụ hoàng. Nhờ công này mà công chúa út được phong làm thần tổng quản diêm vương. Câu chuyện Baridyegi chính là một nhạc phẩm của dòng nhạc cúng cầu siêu vùng Seoul. Nội dung các bài hát cúng cầu siêu của Hàn Quốc bao hàm cả các câu truyện thần thoại dân gian.

Musok 6

Gut không chỉ là âm nhạc được tấu trong các lễ cúng cầu siêu mà còn được chơi cả trong các lễ cầu khấn bình an, thịnh vượng cho làng mạc. Bây giờ, chúng ta sẽ cùng đến với dòng nhạc Donghaean Byeonsingut, di sản văn hóa phi vật thể quan trọng số 82 của Hàn Quốc. Donghaean Byeonsingut là lối hát Gut của khu vực kéo dài từ Goseong Gangwon qua Dongnae Busan tới tận phía đông dãy núi Taebaek. Ở khu vực này, làng nào cũng có đền thờ thần thổ công làng gọi là Golmaegidang. Tại đền thờ, mỗi năm hoặc 2 đến 3 năm một lần, lại diễn ra lễ cầu nguyện cho sự thái bình, giàu sang và no ấm của dân làng. Khu vực này nằm dọc ven biển, nên các bài hát cầu xin thần linh cho người dân đánh bắt được nhiều cá xuất hiện khá nhiều như Pungoje, Pungogut và Golmaegije.

Nói đến tín ngưỡng “lên đồng”, chúng ta thường liên tưởng tới cảnh người ngồi đồng rơi vào trạng thái nhập đồng, hay bị vong hồn người khác nhập vào để phán bảo. Nhưng ở vùng duyên hải Donghaean và Namdo của Hàn Quốc, lên đồng đã trở thành nghề cha truyền con nối. Thầy đồng chủ yếu là phụ nữ, nam giới thì chuyên chơi nhạc. Thế nên lên đồng đã vượt xa cái gọi là tín ngưỡng và trở thành một mạch nghệ thuật truyền thống tiêu biểu của Hàn Quốc. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa hát, nhạc và múa. Giờ đây, các tác phẩm của dòng nghệ thuật này rất phong phú đa dạng. Ví như nhạc phẩm Sejongut trong dòng Donghaean. Lời bài hát là nội dung truyền thuyết Danggeumahgi. Chuyện kể rằng Danggeum là người con gái được cưng chiều nhất trong gia đình. Sau khi phải lòng và có thai với một nhà sư, Danggeum bị gia đình ruồng bỏ. Nhưng về sau này, Danggeum đã trở thành vị thần bảo hộ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh có tên là Samsin mà người Việt Nam vẫn quen gọi là Bà Mụ.

Ở Hàn Quốc đã từng trình chiếu một bộ phim với nhan đề “Thank you master Kim-Cảm ơn thầy Kim”. Bộ phim kể về chuyện một nghệ sĩ trống quốc tịch Úc, vô tình nghe được khúc nhạc của một người Hàn Quốc. Người nghệ sĩ trống đã cất công lặn lội tìm đến tận đất nước này để học về âm nhạc Hàn Quốc. Nhân vật chính của bộ phim do nghệ sĩ Kim Seok-chul đảm nhận. Sinh ra và lớn lên là một thầy đồng, chịu bao sự dè bỉu, kì thị, hắt hủi của người đời, nhưng nghệ sĩ Kim Seok-chul vẫn một lòng cầu nguyện cho vận mệnh và phúc lộc của mọi người. Trong cái gọi là tín ngưỡng đó hàm chứa một giá trị thanh cao và tính nghệ thuật của thời đại.

Một số lễ điển hình của tín ngưỡng “lên đồng”

Tín ngưỡng dân gian Musok có rất nhiều loại lễ, trong đó Bộ lạc tế (Purak-che) là một trong những lễ điển hình. Purak-che là hệ thống các lễ của làng được người ta chia ra làm hai loại chủ yếu: lễ trong gia đình và lễ của cộng đồng. Trong mỗi loại lễ đó có sự kết hợp những yếu tố Khổng giáo xen lẫn saman giáo. Các yếu tố Khổng giáo nhấn mạnh đến khía cạnh huyết thống trong khi yếu tố saman giáo lại phù hợp với tín ngưỡng đa thần.

Những lễ trong gia đình: gồm có các lễ thờ cúng ông bà tổ tiên theo nghi thức Khổng giáo. Trong các lễ này có lễ Sanogu-gut và Ogu-gut. Những lễ này được thực hiện đáp ứng theo yêu cầu của gia đình, ví dụ như trong dịp tang ma hoặc lễ mừng tuổi trung niên. Lễ Sanogugut dành cho người còn đang sống còn lễ Ogu-gut dành cho người chết.

Musok 3

Những lễ của cộng đồng (Tong-ji) theo kiểu Khổng giáo được tiến hành hai hoặc bốn lần trong một năm. Một hội đồng gồm 10 người già trong làng, gọi là chegwan được chọn ra để tiến hành đám lễ. Nơi hành lễ được cấm kị nghiêm ngặt và đánh dấu bằng một mái che. Người ta còn đổ cát xung quanh để thể hiện sự linh thiêng. Nghi lễ dành cho tổ tiên của làng tiến hành rất đơn giản. Trong lễ này đồ lễ gồm có cơm, cháo, rượu, hoa quả và bánh ttok- một loại bánh của Hàn Quốc được bày để dâng thần linh. Người ta cầu nguyện và đốt giấy sớ, nếu ngọn lửa cháy sáng thì được coi là thần linh đã chứng giám và mọi điều may mắn sẽ đến với dân làng.

Trong những lễ liên quan đến đời sống cá nhân phải kể đến những lễ sau:

Lễ chữa bệnh: Là một loại lễ đơn giản do Mutang thực hiện để chữa trị cho những người bị bệnh về tâm thần. Lễ này được gọi là pyõng-gut, rất phổ biến trong các nghi lễ saman giáo. 

Lễ cầu nguyện: có nhiều loại dành cho những vị thần khác nhau. Ví dụ lễ cầu xin Long thần (yongsin-gut) thường để cầu mong có mưa, cầu mong các thương thuyền và ngư thuyền được bảo vệ. Một lễ khác là lễ cầu Sơn thần (Sansin). Người thực hiện lễ cầu Sơn thần thường mong được trường thọ hay có con, nhất là có con trai để nối dõi.

Tang lễ được chia làm 3 loại. Loại thứ nhất là nghi lễ được tiến hành từ khi người chết đến lúc chôn cất nhằm mục đích thể hiện sự từ biệt của người quá cố đối với các thành viên trong gia đình. Loại thứ hai là nghi lễ tiến hành sau khi chôn cất nhằm cho người quá cố nhanh chóng siêu thoát về thế giới bên kia. Loại thứ ba là nghi lễ tiến hành một tháng hoặc tháng rưỡi sau khi chết nhằm để người chết có được quan hệ tốt đẹp với những vị thần quan trọng của thế giới bên kia và phù hộ cho con cháu trong gia đình.

“Lên đồng” là một tín ngưỡng dân gian, nó không có kinh điển, giáo lý hoàn chỉnh như Phật giáo, Kitô giáo. Mặc dù vậy, về mặt tư tưởng nó tiếp thu nhiều yếu tố của các tôn giáo khác. Musok- kyo chịu ảnh hưởng quan niệm của Phật giáo về kiếp luân hồi. Những điều tốt, xấu mà con người tạo ra trong cuộc sống hiện tại không phải đã kết thúc ở cái chết, nó còn tiếp tục duyên nợ đến tận kiếp sau; chịu ảnh hưởng quan niệm của Nho giáo cho rằng con người phải tôn thờ cha mẹ, tổ tiên cả khi còn sống lẫn khi đã khuất, làm như vậy là hợp với đạo lý nên được tổ tiên phù hộ, độ trì; tiếp thu những yếu tố huyền bí của Đạo giáo, tin vào phép thuật bùa chú, tướng số và đặc biệt là lòng yêu mến và hoà đồng với thiên nhiên.

“Lên đồng” bị cho là mê tín dị đoan nhưng nó từng là một tín ngưỡng truyền thống lâu đời của người Hàn Quốc. Nếu du khách yêu đất nước và văn hóa “xứ sở Kim Chi” thì hãy đặt ngay cho mình một tour du lịch Hàn Quốc của Viet Viet Tourism để cơ hội khám phá những điều độc đáo có ở mảnh đất xinh đẹp này nhé!