bieu tuong quoc gia han quoc 5

Những biểu tượng quốc gia đặc trưng riêng của đất nước Hàn Quốc

bieu tuong quoc gia han quoc 5Mỗi một quốc gia đều chọn cho mình một biểu tượng đặc trưng riêng thông qua Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc hoa. Ở “xứ sở Kim Chi” Hàn Quốc cũng không ngoại lệ. Hãy cùng Viet Viet Tourism khám phá xem những biểu tượng này có gì đặc biệt nhé!

TAEGEUKGI (CỜ THÁI CỰC) – QUỐC KỲ HÀN QUỐC

1. Nguồn gốc

Các vương triều trong lịch sử Hàn Quốc không có truyền thống sử dụng quốc kỳ. Những vấn đề liên quan đến việc chế định và chọn lựa quốc kỳ bắt đầu xuất hiện từ năm 1880 nhưng vẫn chưa được quan tâm nhiều. Trong chuyến công du đến Nhật Bản vào tháng 8 năm 1882, sứ thần Park Young-hyo đã sáng tạo nên lá cờ thái cực với vòng tròn thái cực lưỡng nghi gồm một nửa màu đỏ và một nửa màu xanh ở giữa, 4 bên là 4 ký hiệu màu đen biểu tượng cho 4 quẻ trong bát quái và nó đã trở thành khởi nguồn của lá quốc kỳ Hàn Quốc ngày nay.

2. Chế định quốc kỳ

Lá cờ Thái cực bắt đầu được chọn làm quốc kỳ từ năm 1883 nhưng chưa có chỉ dẫn tiêu chuẩn chính thức nào vào thời điểm đó.

Năm 1948, cùng với việc thành lập chính phủ Đại Hàn Dân Quốc, quy định về tiêu chuẩn lá cờ đã được ban hành.

Ngày 15 tháng 10 năm 1949, quy định của Bộ Giáo dục chính thức ban hành quy định về việc chọn lá cờ thái cực làm quốc kỳ của Đại Hàn Dân Quốc.

Sau đó, những pháp lệnh liên quan như Luật chế tác quốc kỳ (Thông báo của Bộ Giáo dục năm 1950), Luật kéo quốc kỳ (thông báo của Tổng thống năm 1964) v.v… đã được thi hành.

bieu tuong quoc gia han quoc 1

3. Hình dáng và ý nghĩa của cờ Thái cực

Quốc kỳ Hàn Quốc bao gồm 1 vòng tròn được tạo thành bởi 2 hình bán nguyệt, 1 màu xanh và 1 màu đỏ có dạng như lốc xoáy, 4 góc là 4 nhóm vạch nổi bật trên nền trắng tượng trưng cho 4 quẻ trong bát quái của âm dương ngũ hành. Thiết kế của nó tượng trưng cho thuyết âm dương của triết lí phương Đông. Vòng tròn ở giữa lá cờ chia thành 2 phần bằng nhau. Phần màu xanh là biểu tượng của âm, tượng trưng cho hy vọng. Phần màu đỏ tượng trưng cho dương, chỉ sự tôn quý. Vòng tròn âm dương này tượng trưng cho sự sinh thành phát triển tương hỗ lẫn nhau trong quan hệ đối lập. Vì vậy, thái cực là căn nguyên của vạn vật trong vũ trụ, là khởi nguồn của sinh mệnh con người. Nó là sự tuần hoàn vĩnh cửu không bao giờ dứt.

Bốn góc xung quanh hình tròn là bốn hình khối. Mỗi hình khối tượng trưng cho một trong 4 yếu tố của vũ trụ: Góc trên – bên trái: Trời; Góc trên – bên phải: Nước; Góc dưới – bên trái: Lửa; Góc dưới – bên phải: Đất.

Nó còn thể hiện 4 quẻ trong bát quái: Quẻ Càn tượng trưng cho trời, mùa xuân, phương Đông và lòng nhân từ; Quẻ Khôn tượng trưng cho đất, mùa hè, phương Tây và sự ngay thẳng hào hiệp; Quẻ Khảm tượng trưng cho mặt trăng, mùa đông, phương Bắc và sự thông thái; Quẻ Ly tượng trưng cho mặt trời, mùa thu, phương Nam và lễ nghĩa. Bốn quẻ này tuần hoàn phát triển không có điểm dừng: Càn Ly Khôn Khảm Càn.

Nền của lá cờ màu trắng biểu tượng cho ánh sáng và sự tinh khiết phản ánh khát vọng truyền thống của người Hàn Quốc hướng tới hòa bình. Trong lịch sử, dân tộc Hàn có truyền thống mặc áo trắng và được gọi tên là “dân tộc Bạch y”. Bởi vậy màu trắng cũng được xem là màu biểu tượng cho dân tộc Hàn.

Quốc kỳ Hàn Quốc  tượng trưng cho uy quyền và sự tôn nghiêm, thể hiện truyền thống và ý tưởng của quốc gia qua màu sắc và hình dáng đặc trưng riêng. Như vậy, cờ Thái cực – Quốc kỳ Hàn Quốc là tượng trưng cho sự trường tồn mãi mãi, cho hy vọng và hòa bình.

QUỐC HUY HÀN QUỐC

bieu tuong quoc gia han quoc 2

Quốc huy đã được sử dụng tại các quốc gia nhằm biểu tượng cho quyền lực của một quốc gia, một tổ chức hoặc một gia tộc. Quốc huy của Hàn Quốc gồm có biểu tượng taeguk trên quốc kỳ xung quanh là 5 cánh hoa cách điệu và dây ruy băng mang dòng chữ “Đại Hàn Dân Quốc” (Daehan Minguk), tên chính thức của quốc gia, bằng Hangul. Thái cực đại diện cho hòa bình và hòa hợp. Năm cánh hoa đều mang ý nghĩa và liên quan đến quốc gia Hàn Quốc, hoa dâm bụt, hoặc hoa hồng Sharon (mugunghwa).

Hàn Quốc thông qua quốc huy vào năm 1963, ở dạng huy hiệu hoặc được rập nổi. Khi được rập nổi, quốc huy mang hai màu, màu xanh được thể hiện với màu đen và những màu khác thể hiện bằng màu trắng.

AEGUKGA – QUỐC CA HÀN QUỐC

Aegukga (tiếng Hàn: 애국가, tiếng Việt: Ái quốc ca) là bài quốc ca chính thức của Hàn Quốc.

1. Nguồn gốc ra đời

Năm 1896, lời bài Aegukga có lẽ đã được sáng tác tại lễ khởi công công trình Cổng Độc Lập tại Seoul. Tác giả của Aegukga là Yoon Chi-ho (hay tên khác là An Chang-ho) – một nhà chính trị và nhà giáo dục theo tư tưởng độc lập khỏi đế quốc Nhật Bản. Lúc đầu, quốc ca được phổ nhạc trên bài Auld Lang Syne (dân ca Scotland) do các nhà truyền giáo của Mỹ phổ biến. Bài hát này được biết đến rộng rãi như 1 bài quốc ca.

Sau đó, có một nhà soạn nhạc tên là Ahn Eak-tai đã chỉ ra điểm bất hợp lý khi một bài ca yêu nước lại được hát theo giai điệu một ca khúc dân ca nước ngoài, vì vậy ông đã soạn phần nhạc mới cho ca từ gốc vào năm 1963. Tuy nhiên, trước năm 1948, người ta vẫn tiếp tục sử dụng bản Aegukga cũ chứ chưa sử dụng phần nhạc do Ahn Eak-tai soạn lại.

Cùng với sự ra đời của chính phủ Đại Hàn Dân Quốc, chế định về quốc ca cũng chính thức được ban hành và “Aegukga” của Ahn Eak-tai trở thành tên gọi của quốc ca Hàn Quốc.

bieu tuong quoc gia han quoc 3

2. Nội dung của Aegukga

* Giai điệu: Được hát theo gam A trưởng hoặc G trưởng nhịp 4/4. Bản nhạc có 16 câu, kết cấu theo hình thức chương, đoạn với ca từ được chia làm 4 đoạn với hình thức nhịp đôi a-b-c-d. Bản nhạc ngắn gọn, súc tích và trang nghiêm.

* Ca từ: Bản nhạc gợi nên nỗi buồn mất nước và bầu không khí ảm đạm dưới ách thống trị của phát xít Nhật. Nhưng vượt lên trên nỗi buồn, sự bi thương đó là lời ngợi ca vẻ đẹp của đất nước, khát vọng chấm dứt xiềng xích nô lệ, đứng lên giành lại độc lập, chủ quyền và phát triển đất nước.

3. Lời bài hát quốc ca Hàn Quốc

Quốc ca Hàn Quốc gồm có bốn khổ, tuy nhiên chỉ có khổ thứ nhất và phần điệp khúc được hát.

* Tiếng Hàn:

1: 동해 물과 백두산이 마르고 닳도록
하느님이 보우하사 우리나라 만세

 

2: 남산 위에 저 소나무 철갑을 두른 듯
바람서리 불변함은 우리 기상일세

3: 가을 하늘 공활한데 높고 구름 없이
밝은 달은 우리 가슴 일편단심일세

4 이 기상과 이 맘으로 충성을 다하여
괴로우나 즐거우나 나라 사랑하세

Điệp khúc: 무궁화 삼천 리 화려 강산
대한 사람 대한으로 길이 보전하세

* Phiên âm: 

1: Donghae mulgwa Baekdusani mareugo daltorok
Haneunimi bouhasa urinara manse

2: Namsan wie jeo sonamu cheolgabeul dureun deut
Baram seori bulbyeonhameun uri gisangilse

3: Ga-eul haneul gonghwalhande nopgo gureum eopsi
Balgeun dareun uri gaseum ilpyeondansimilse

4: I gisanggwa i mameuro chungseong-eul dahayeo
Goiro’una jeulgeo’una nara saranghase

Điệp khúc: Mugunghwa samcheonri hwaryeogangsan
Daehansaram daehaneuro giri bojeonhase

* Lời Việt:

1: Dù Đông Hải khô cạn, núi Bạch Đầu mòn, Trời sẽ bảo vệ chúng ta, Tổ quốc muôn năm!

2: Nam Sơn đứng vững vàng trong sương gió như thể được mang giáp, tinh thần quật khởi của chúng ta cũng như vậy.

3: Trời thu trong xanh, cao ngàn dặm, không một bóng mây, trăng sáng ở trong tim ta vẫn vẹn nguyên một hình hài.

4: Với tinh thần và trí óc, hãy trao lòng trung thành của chúng ta. Yêu đất nước dù trong gian lao hay hạnh phúc.

Điệp khúc: Sông núi hoa lệ dài ba ngàn lý mọc đầy hoa dâm bụt, người Đại Hàn mãi đi trên con đường Đại Hàn, bảo toàn cả giang sơn của chúng ta.

MAGUNGHWA – QUỐC HOA HÀN QUỐC

Hàng năm từ tháng 07 đến tháng 10, hoa Mugunghwa (Rose of Sharon hay Mộc cận) nở rộ trên khắp đất nước. Không giống như hầu hết các hoa khác, Mugunghwa có sức sống mạnh mẽ, có thể chống chọi lại với bệnh bạc lá và côn trùng.

1. Nguồn gốc của hoa Mugunghwa

Mugunghwa có nguồn gốc từ vùng Tiểu Á (hay Anatolia, có nghĩa là “mặt trời mọc”, “phía đông” là một bán đảo của châu Á mà ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Tuy nhiên, nó lại có mặt phổ biến ở Ấn Độ.

Mugunghwa còn có một số tên gọi khác như hoa hồng Sharon, bụp hồng cận, dâm bụt kép, râm bụt kép, mộc cận, hồng cận biếc, là một loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ.

Hoa hồng Sharon có thân cây cao khoảng hai đến ba mét, thẳng đứng, vỏ cây có màu xám. Lá của hồng Sharon dài khoảng bốn đến mười centimet có hình dáng giống quả trứng và mọc đan xen vào nhau.

Hàng năm từ tháng 07 đến tháng 10, hoa hồng Sharon nở rộ trên khắp đất nước.

bieu tuong quoc gia han quoc 4

2. Tại sao Mugunghwa (hoa hồng Sharon) trở thành quốc hoa Hàn Quốc?

Cũng giống như quốc kỳ, quốc huy hay quốc ca, việc hoa Mugung được chọn làm quốc hoa là do quy định của Hàn Quốc. Từ ngàn xưa, hoa Mugunghwa đã được xem là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết của dân tộc Hàn. 

Tình yêu của người Hàn Quốc dành cho loài hoa này được thể hiện rõ nét khi những ca từ “Hoa Mugung nở ngàn dặm trên những ngọn núi và ở bên những dòng sông tươi đẹp” đã mở đầu cho một đoạn điệp khúc trong quốc ca của Đại Hàn Dân Quốc. Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Hàn Quốc đều lấy hoa Mugunghwa làm biểu tượng và để cắm quốc kỳ cũng được quy định làm theo hình dạng của nụ hoa Mugunghwa.

Hoa hồng Sharon đã trở thành một biểu tượng quan trọng của Hàn Quốc trong nhiều thế kỷ qua. Chính vì lẽ đó mà Mugunghwa là quốc hoa Hàn Quốc. 

3. Ý nghĩa quốc hoa của Hàn Quốc

Hoa Mugunghwa mang vẻ đẹp giản dị, là biểu tượng cho tính cách của người Hàn. So với các loại hoa khác, hoa Mugunghwa có sức chịu đựng rất dẻo dai, tượng trưng cho sinh lực mạnh mẽ. Cho dù bông này có rụng xuống thì bông khác sẽ lại nở tiếp, bởi vậy nó cong được xem là biểu tượng của tinh thần bất khuất. Ngoài ra, hoa Mugunghwa còn nhiều công dụng khác, nụ hoa được dùng làm rau, cánh hoa và quả được dùng làm thuốc hoặc pha trà. Với những công dụng và sự hữu ích lớn như thế, Mugunghwa quả thật là loài hoa được sinh ra “vì con người và giúp ích cho con người”.

Vậy là thông qua bài viết này, du khách đã biết được các biểu tượng quốc gia đặc trưng riêng của “xứ sở Kim Chi”. Hãy đăng ký tham gia tour Hàn Quốc của Viet Viet Tourism để có cơ hội khám phá nhiều hơn về những nét đặc trưng trong văn hóa của đất nước xinh đẹp này nhé! Chúc du khách có được những hiểu biết bổ ích!